Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn viên
Bs Trịnh Thị Phượng
Đối tác
BỆNH LOÉT ÁP TƠ

BỆNH LOÉT ÁP TƠ

 

Loét áp tơ  y văn ngày nay thường dùng các thuật ngữ viêm miệng áp tơ tái diễn để thể hiện tính chất lặp lại của bệnh.  

 

 Đặc điểm dịch tễ
 Loét áp tơ là bệnh loét ở miệng thường gặp nhất, ảnh hưởng tới khoảng 30% dân số và hầu hết xuất hiện ở tuổi 30. Tỷ lệ bệnh giữa nam giới và nữ giới là tương đương nhưng có sự khác nhau theo chủng tộc và lứa tuổi. Bệnh hay gặp ở người trẻ tuổi, trong đó một phần ba trẻ em dưới 18 từng có biểu hiện của bệnh. Tỷ lệ và mức độ nặng của bệnh giảm dần theo tuổi..

Đặc điểm lâm sàng
Thương tổn là các viết loét hình tròn hoặc hình ovan, kích thước to nhỏ khác nhau, số lượng ít hoặc nhiều, xung quanh có quầng đỏ, đáy vết loét có màu vàng hoặc màu xám. Có thể gặp loét áp ở bất kỳ vị trí nào trong miệng, nhưng hay gặp nhất là nơi có sang chấn lặp đi lặp lại, ví dụ như niêm mạc môi dưới nơi răng nanh hay cắn vào, đầu lưỡi, phanh lưỡi. Các vết loét gây đau, khó chịu, ăn uống khó. Loét tái diễn lâu làm người bệnh sụt cân, lo lắng, giảm chất lượng cuộc sống.


Theo kích thước, số lượng, thời gian lành vết loét, loét áp tơ được chia thành ba thể: loét áp tơ nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 90-95%; loét áp tơ lớn chiếm 5-10%; loét áp tơ dạng herpes chiếm 1-5%.

Nguyên nhân  
 Tuy là một bệnh loét miệng phổ biến nhưng căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của loét áp tơ vẫn chưa rõ ràng. Các yếu tố sau đây có thể góp phần vào cơ chế bệnh sinh của bệnh.
- Yếu tố di truyền:   Yếu tố di truyền có thể đóng vai trò quan trong trong loét áp tơ. Khoảng 40% bệnh nhân có người trong gia đình bị loét áp tơ. Những người này thường khởi phát bệnh sớm hơn và mức độ bệnh nặng hơn.  Mối liên quan này thay đổi theo nguồn gốc dân tộc và chủng tộc.
- Chấn thương cơ học:  Các sang chấn của niêm mạc miệng do các yếu tố cơ học như tiêm tê, răng sắc nhọn, bàn chải đánh răng thô ráp hoặc các can thiệp nha khoa có thể gây khởi phát loét áp tơ.
- Thuốc lá:  Vài nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan âm tính giữa hút hoặc hít khói thuốc lá với loét áp tơ.

-Các loại thuốc:  Có một số thuốc liên quan tới sự phát triển của loét áp tơ như thuốc ức chế men chuyển captopril, muối vàng, nicorandil, phenindion, phenobarbital và dung dịch hypochloride. Các thuốc chống viêm không steroid như axit propionic, diclofenac, và piroxicam có thể gây ra các vết loét miệng giống loét áp tơ.

 - Thay đổi nội tiết:   Mối liên quan giữa loét áp tơ và thay đổi nội tiết ở phụ nữ vẫn đang gây tranh cãi. Một số tác giả thấy rằng loét áp tơ thường xảy ra trong giai đoạn bắt đầu kinh nguyệt hoặc trong pha hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt. McCartan và cộng sự lại không thấy có mối liên quan của bệnh với bất kỳ thay đổi nội tiết nào của phụ nữ (sinh đẻ, tiền mãn kinh, mãn kinh).
- Căng thẳng (stress):   Sự căng thăng tinh thần từng được xem yếu tố căn nguyên cua loét áp tơ. Nó gián tiếp gây bệnh thông qua các hành động làm sang chấn mô mềm như cắn môi, cắn má. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy không có mối tương quan giữa mức độ căng thẳng với độ nặng của loét áp tơ. Vì vậy, căng thẳng tâm lý đóng vai trò làm vượng bệnh hơn là yếu tố căn nguyên trên những cá thể đã có sẵn cơ địa loét áp tơ.

Ngoài ra còn một số yếu tố liên quan khác.
Chẩn đoán
Chẩn đoán loét áp tơ chủ yếu dựa vào lâm sàng và tiến triển của loét.

Điều trị loét áp tơ
Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của loét áp tơ chưa rõ ràng cho nên mục đích điều trị là giảm triệu chứng và ngăn ngừa các yếu tố khởi phát hoặc làm nặng bệnh.  

Vì vậy người bệnh cần được khám chuyên khoa Da liễu để đánh giá lâm sàng, tư vấn cũng như tìm hiểu về tiền sử để điều trị thích hợp.

 Copyrights Thiet Ke Website by ungdungviet.vn